Theo luật DN 2014 vừa được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-2015 có 1 số thay đổi đáng chú ý.
Văn phòng luật sư Intracolaw xin giới thiệu 8 điểm mới của Luật DN năm 2014 như sau :
Những điểm mới của luật DN sửa đổi 2014
Theo quy định hiện nay, mỗi DN chỉ được sử dụng 1 con dấu, trừ 1 số trường hợp được chấp thuận sử dụng con dấu thứ 2 và phải được đăng ký mẫu tại cơ quan công an. Kể từ ngày 01-07-2015, DN có quyền quyết định về hình thức, số lượng, nội dung con dấu của DN nhưng phải bảo đảm thể hiện nội dung về tên và mã số DN, đồng thời phải được thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công k2 trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN
1) Lĩnh vực ngành nghề đăng kí kinh doanh :
Luật DN sửa đổi 2014 đã tạo điều kiện thuận lợi cho DN khi quy định giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh không bắt buộc ghi ngành nghề kinh doanh, tách bạch giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, Bãi bỏ các yêu cầu và điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng kí thành lập DN. Giấy CNĐKDN chỉ còn 4 nội dung so với 10 nội dung trước đây bỏ mục ngành nghề kinh doanh, danh sách cổ đông sáng lập, Chi nhánh, Văn phòng dại diện, Địa điểm kinh doanh .v.v…
2) Người đại diện theo pháp luật của DN:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Luật DN năm 2014: C.Ty TNHH và C.Ty cổ phần có thể có 1 hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Như vậy, so với Luật DN năm 2005, Luật DN năm 2014 quy định C.Ty hoàn toàn có thể tự quyết định, chỉ định 1 người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật, số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của DN được quy định tại Điều lệ C.Ty. Cho phép C.Ty trách nhiệm hữu hạn, C.Ty cổ phần có thể có 1 hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật, cho phép C.Ty cổ phần có thể chọn 1 trong 2 mô hình tổ chức, quản lý, cho phép lựa chọn cách bầu dồn phiếu hay không bầu dồn phiếu khi bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát C.Ty cổ phần
3) Góp vốn khi thành lập C.Ty:
Nhằm giải quyết những vướng mắc, tranh chấp phát sinh trong thực tiễn áp dụng các quy định tại Luật DN 2005. Theo đó Luật DN sửa đổi 2014 đã có áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ phần vốn góp khi thành lập C.Ty, Thống nhất các khái niệm về vốn C.Ty cổ phần như cổ phần được quyền phát hành và cổ phần đã phát hành, Chào bán cổ phần riêng lẻ của C.Ty cổ phần không phải là C.Ty cổ phần đại chúng.
Chủ sở hữu, thành viên C.Ty TNHH phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập DN trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN trong khi quy định hiện tại về thời thời hạn góp vốn tối đa là 36 tháng. Tuy nhiên, đối với các C.Ty TNHH được thành lập trước ngày 01-07-2015, thời hạn góp vốn vẫn được thực hiện theo quy định tại Điều lệ C.Ty
Ngoài ra theo quy định tại Khoản 7 Điều 13 Luật DN 2014 quy định: Trong 1 số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tóa án.
4) Sát nhập DN và thu hồi Giấy đăng ký kinh doanh:
Luật 2014 không yêu cầu các C.Ty cùng loại mới được hợp nhất, sáp nhập, chia, tách đồng thời quy định rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như trình tự thủ tục, hồ sơ .v.v. Đổi mới hết sức quan trọng này chắc chắn sẽ góp phần thúc đẩy thị trường mua bán DN (M&A) đang hết sức sôi động như hiện nay. Luật quy định chỉ có 05 trường hợp bị thu hồi Giấy GCNĐKDN so với 8 trường hợp của Luật cũ. Đồng thời Luật mới cũng có các quy định nhằm giúp DN rút khỏi thị trường thuận lợi hơn,
5) Tỷ lệ biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông C.Ty cổ phần.
Tại Luật DN 2014 đã yêu cầu về tỉ lệ biểu quyết thông qua quyết định đại hội đồng cổ đông xuống 51% đối với quyết định thông thường và 65% đối với các quyết định quan trọng.
Bên cạnh đó, Luật DN 2014 cũng mở rộng nội dung cho phép C.Ty quy định nguyên tắc quản trị DN cụ thể hơn, chi tiết hơn. Chính thức thay đổi theo đúng thông lệ quốc tế khi giảm tỷ lệ dự họp từ 65% (Luật DN năm 2005) xuống còn 51%. Và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua khi được số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp tán thành (Luật DN năm 2005 là 65%, trường họp thông qua nghị quyết dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản là ít nhất 75%). Luật quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập, không tham gia điều hành trực tiếp DN, Bãi bỏ việc Đại hội đồng cổ đông bầu trực tiếp Chủ tịch hội đồng quản trị.
6) Mô hình quản trị C.Ty cổ phần:
Theo đó trên thế giới có nhiều mô hình quản trị C.Ty cổ phần như: Mô hình hội đồng 2 cấp, mô hình hội đồng 1 cấp. Ở Việt Nam trước đó đã quản lý C.Ty cổ phần theo Luật DN ban hành 2005. Theo đó, cấu trúc gồm: Đại hội đông Hội đồng quản trị, Giám đốc-tổng giám đốc và ban kiểm soát. Nhưng tới mô hình tổ chức quản trị theo Luật DN 2014 cấu trúc mô hình sẽ gồm Đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị (thành viên, thành viên độc lập), Giám đốc-tổng giám đốc.
7) Bảo vệ cổ đông:
Luật DN 2014 có quy định chi tiết về các cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức. cổ đông ưu đãi hoàn lại, cổ đông sáng lập.
Công bố thực phẩm chức năng - Luật quy định tăng cường việc bảo vệ cổ đông nhỏ (cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh C.Ty khởi kiện ...). Bãi bỏ nhiều điều khoản đã được chứng minh là hiệu quả thực thi rất thấp, như việc đăng ký danh sách cổ đông nắm giữ 5% vốn điều lệ C.Ty cổ phần, hoặc bãi bỏ việc gây cản trở cho hoạt động của DN như cấm 1 người đã làm Giám đốc (Tổng Giám đốc) C.Ty cổ phần không được làm Giám đốc (Tổng Giám đốc C.Ty khác.
8) Điểm mới trong quản lý DN nhà nước:
Đây là 1 định nghĩa mới được luật hóa quy định cụ thể tại Điều 10 Luật DN năm 2014. DN xã hội không phải là 1 loại hình DN mà cũng giống như DN thông thường khác được tổ chức và hoạt động theo 1 trong các loại hình DN nhất định như: C.Ty cổ phần, C.Ty trách nhiệm hữu hạn…, chỉ phân biệt ở mục tiêu hoạt động và mục đích việc sử dụng lợi nhuận của DN. Theo quy định tại Điều 10 Luật DN năm 2014 thì DN xã hội là
tư vấn thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật này, mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng và sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của DN để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Ngoài các quyền và nghĩa vụ của DN theo quy định của Luật DN năm 2014, DN xã hội còn có 1 số quyền và nghĩa vụ quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật DN .
Luật DN 2014 bổ sung 1 chương hoàn toàn mới về DN nhà nước. Đây là nội dung lâu nay chưa có luật nào quy định cụ thể. Trong đó, quy định về các lĩnh vực kinh doanh của nhà nước. Ngoài ra luật còn quy định về cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động, công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường.
Bốn lĩnh vực DN nhà nước được kinh doanh:
+ DN hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh
+ DN cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội
+ DN ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế
+ DN hoạt dộng trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên.